Kính dâng hương hồn cố Đại Úy Bùi Dân Bá (Khoá 24 ĐL), Trung Uý Nguyễn Văn Giảng (Khoá 25 TĐ), cùng các chiến hữu thuộc TĐ 3/40 SĐ22 BB.
Bút ký chiến trường: Trần Thức, TĐ3/40 SĐ22 BB

Anh nằm xuống nơi núi đồi Eo Gió
Vào sáng mùa Đông còn lắm sương mù
Ở nơi đây Anh yên giấc ngàn thu
Không bia mộ, không người thân đưa tiễn

 

Tôi mãn khoá 2/68 SQTB Thủ Đức ngày 1/11/1968. Sau 10 ngày nghỉ phép, tôi cùng 11 bạn cùng khóa đến trình diện Bộ Tư Lệnh SĐ22 BB, đồn trú tại cầu Bà Gi, cách thị xã Qui Nhơn 15km. Sau khi đến phòng Tổng Quản Trị (TQT), chúng tôi đến trình diện Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Sư Đoàn. Thiếu Tướng Tư Lệnh đã bắt tay chúng tay và ân cần dặn dò,
– Các anh sẽ được đưa đến các tiểu đoàn để thực hiện những điều đã được học ở quân trường. Khi thi hành nhiệm vụ, các anh phải luôn luôn nhớ đến khẩu hiệu “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm”…
Ngay chiều hôm đó, tôi và 3 người bạn nhận sự vụ lệnh về Trung Đoàn 40 BB, tại Bắc Bồng Sơn (căn cứ Đệ Đức). Miệt mài theo các cuộc hành quân qua nhiều năm, tôi đã được bổ sung về Tiểu Đoàn 4 và rồi Tiểu Đoàn 3 cùng Trung Đoàn 40 BB.
Tháng 3-1972, CSBV mở cùng lúc 3 mặt trận: Quảng Trị (Vùng I), Kontum và Bắc Bình Định (Vùng II), Bình Long thuộc An Lộc (Vùng III). Để yểm trợ cho chiến dịch của chúng, CSBV cũng mở các đợt tấn công lớn vào các đơn vị của ta đang đóng tại Kontum. Trung Đoàn 40 thuộc Sư Đoàn 22 BB cũng là một mục tiêu chính của địch. Sau hơn một tuần giao tranh ác liệt, ngày 16-4-72, trực thăng đã đến bốc toán cố vấn Mỹ của trung đoàn ra khỏi vị trí. Sau một đêm, Cộng quân đã tràn ngập căn cứ của trung đoàn, sau khi pháo kích nặng nề, trong khi quân ta hoàn toàn không được pháo binh và phi cơ võ trang yểm trợ. Trung Đoàn 40 được lệnh di tản chiến thuật sau đó. Trong trận này, tôi đã bị bắt làm tù binh và được trao trả vào tháng 3-73. Ở trại An Dưỡng hơn 3 tháng, tôi nhận sự vụ lệnh của Bộ TTM/ QLVNCH trả tôi về đơn vị cũ.
Vào tháng 8-72, tôi trình diện BCH Trung Đoàn 3 tại Bắc Bồng Sơn, và được đưa xuống Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 40. Nửa tháng sau, tôi được đề cử làm ĐĐT Đại Đội 3. Sau khi bàn giao đại đội được khoảng 2 tuần, tôi được lệnh đưa đại đội đi tiếp viện để giải toả một đồn của Điạ Phương Quân vừa bị VC chiếm đêm hôm trước. Sau 2 ngày, cùng với Đại Đội 22 Trinh Sát, Sư Đoàn 22 BB, từ 2 hướng Đông và Nam, đại đội 3/3 đã giải toả và tái chiếm đồn Cự Tài, khoảng 5 km phiá Tây Bắc quận lỵ Tam Quan, dưới sự yểm trợ của pháo binh, A37 và 1 chi đội Thiết Giáp M113 thuộc Thiết Đoàn 14. Chúng tôi đã đẩy lui cộng quân khỏi khu vực và bàn giao lại cho đơn vị Điạ Phương Quân bạn ở đây.
Ngày hôm sau, đơn vị chưa được nghỉ ngơi thì Tiểu Đoàn 3 được lệnh rời vị trí hành quân trở lại vị trí của trung đoàn, để chuẩn bị lên đường đến Eo Gió, Kontum. Tại căn cứ trung đoàn, cách Bồng Sơn 3 km vế hướng Bắc, tiểu đoàn được lệnh cấm trại 100%. Các đơn vị trưởng được lệnh kiểm soát và trang bị lại đạn được, mìn bẫy, và M72 cho đơn vị. Vì thế, một số SQ, HSQ, và binh sĩ có gia đình ở Bồng Sơn cũng không thể trở về nhà để từ giã vợ con, trong đó có tôi.
Bốn giờ chiều ngày 24-9-73, đoàn công voa hàng trăm chiếc, đang chờ sẵn, đã bắt đầu đưa chúng tôi từ miền duyên hải lên vùng rừng núi Kontum. Chi đoàn 3/14 Thiết Vận Xa M113 được lệnh mở đường. Đoàn xe từ từ chạy qua thị trấn Bồng Sơn sầm uất. Các nữ sinh trường trung học Tăng Bạt Hổ đã đứng 2 bên đường chào tạm biệt chúng tôi. Khi qua cầu Bồng Sơn, chiếc cầu dài thứ 2 của miền Trung, bắc qua sông Lại Giang thì trời bắt đầu sẫm tối. Đoàn công voa tiếp tục qua đèo Phú Cũ, đèo Nhông, quận lỵ Phù Mỹ, Phù Cát, rồi Đập Đá, Bình Định. Trời đã bắt đầu về đêm. Đoàn xe đã đang chạy qua những phố xá đang say ngủ, trong khi vài ba toán Nhân Dân Tự Vệ đang tuần tra trong thị trấn, hoặc vài trạm canh gác của Điạ Phương Quân đang chăm chỉ canh gác VC, trong ánh đèn vàng vọt của những vọng gác tại các cây cầu nối liền đường giao thông trong tỉnh.
Từng con đường, từng thị trấn tôi đã đi qua, đã để lại trong lòng tôi những kỷ niệm nhung nhớ. Ký ức bỗng hiện về với những kỷ niệm của những ngày tan trường. Hình ảnh những nữ sinh với suối tóc thề chảy dài qua bờ vai trong màu áo học trò gợi lại cho tôi bao kỷ niệm.
Đến cầu Bà Gi, chiến xa M41, thay thế M113, đi đầu mở đường. Đoàn xe rẽ theo quốc lộ 19 nối liền miền duyên hải với cao nguyên. Mười giờ đêm, đoàn xe dừng ở Phú Phong (Quận Bình Khê) nơi vua Quang Trung dấy binh dẹp loạn năm xưa.
Các đơn vị được lệnh kiểm soát lại súngống trong vòng 15 phút để chuẩn bị qua đèo Mang Giang (Quận An Túc). Nơi đây VC thường phục kích các đoàn công voa di chuyển trên quốc lộ. Khi đoàn xe xuống tới chân đèo Măng Giang, thị trấn An Khê đã hiện ra trước mắt. Thấp thoáng là những đỉnh núi mờ mờ trong làn sưong trắng đục. Cuối cùng, đoàn công voa tiến vào thị xã Pleiku dưới ánh trăng hạ tuần mờ ảo, nhạt nhoà của một đêm chờ sáng, còn treo lơ lửng trên cao. Sương đêm lành lạnh thấm ướt áo trận của những người lính ngồi sau các chiếc GMG mui trần. Tôi chợt nhớ đến 2 câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm:
Chàng từng đi vào nơi gió cát.
Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao?
Gần suốt đêm không ngủ, tôi mệt mỏi lịm đi, và khi chợt tỉnh thì đoàn xe đã ra khỏi thị xã Pleiku. Ngọn núi Chu Pao, nơi xảy ra những trận đánh ác liệt vào mù Hè đỏ lửa 1972 giữa SĐ23 BB với CSBV, đã hiện ra trước mắt. Theo QL 14 hướng về Kontum, tôi thấy những đơn vị Điạ Phương Quân, đa số là lính Thượng đang đi ngược chiều. Họ đang vác súng, mệt mỏi trở về đồn sau một đêm dài phục kích mà không được chợp mắt.
Gần 2 giờ chiều, đoàn quân qua cầu Đớp La trước khi vào thị xã Kontum. Những áng mây màu xám ngắt trôi chầm chậm trên nền trời Kontum như báo hiệu một cơn mưa chiều sắp đến. Gió hắt hiu mang theo hơi nước của núi rừng. Một cảm giác buồn chợt kéo đến tâm tư tôi lúc bấy giờ.
Khi vào tới thị xã, những người lính, ngồi băng sau xe GMG, vẫy tay reo hò như chào mừng sự tái ngộ của họ đối với thành phố Núi thân yêu, nhiều kỷ niệm này. Đoàn xe chầm chậm tiến qua các đường phố. Tôi thoáng thấy vài cô gái, da dẻ hồng hào với những gót chân đỏ như son, đang dắt tay nhau dáng điệu thướt tha, đi trên đườn gphố. Tôi chợt nhớ đến cây hát:
“May mà có em, đời còn dễ thương…
Em Pleku mà đỏ môi hồng…”
Phải chăng tác giả đã ít nhiều thiên vị khi quên nhắc đến các cô gái Kontum?
Đây là lần thứ tư, những người lính Sư Đoàn 22 BB, mang trên vai phù hiệu “Hắc Tam Sơn, Bạch Nhị Hà”, trở lại vùng Cao Nguyên đất đỏ, mưa mùa này. Những lần hành quân trước, chúng tôi đi tăng viện cho các mặt trận ở Dakto, Tân Cảnh, Võ Định, Diên Bình. Lần này, chúng tôi được lệnh đi vào Eo Gió. Nơi đây cách thị xã Kontum 11 cây số.
Khi chiếc xe chở tôi đang chạy chầm chậm qua khỏi những khu phố cuối cùng, người tài xế liếc mắt sang tôi, khẽ hỏi,
– Kỳ này mình đi mấy tháng, Trung Uý?
– Tuỳ theo tình hình.
– Mình lên thế cho Trung Đoàn 44?
– Dường như vậy.
Chỉ vài ba cậu đối thoại rồi thôi. Thị xã Kontum từ từ biến mất khỏi tầm nhìn. Hai bên đường, những dẫy đồi nối tiếp theo nhau lùi xa. Tôi nhìn đồng hồ. Mới 2 giờ chiều mà trời dường như sắp tối. Những đám mây vần vũ từ hướng Đông Bắc kéo đến bao trùm cả bầu trời Kontum, khiến những đỉnh núi cao đã bị sương mù che phủ dày đặc. Tôi miên man nghĩ về quân số cần bổ sung cho Trung Đội 1 của Thiếu Uý Thụ thì người mang máy truyền tin, ngồi phiá sau, đưa ống liên hợp PRC 25 cho tôi và nói,
– Mời Thiên Nga gặp Tuấn Mai. (Thiên Nga là danh hiệu truyền tin của tôi, đại đội trưởng. Danh hiệu của Tiểu Đoàn Trưởng là Tuấn Mai – Thiếu tá Trần Nghiã Châu, khoá 19 ĐL.)
– Thiên Nga nghe Tuấn Mai.
– Khi đoàn xe dừng, anh cho “con cái” xuống xe nhanh, rồi di chuyển về hướng Tây để tránh pháo kích.
– Tôi nhận 5/5.
Khoảng 15 phút sau, đoàn xe dừng lại. Tôi điều động đại đội tràn qua những ngọn đồi về hướng Tây và cho chiếm lĩnh những ngọn đồi phiá trước, có ưu thế về chiến thuật.
4 giờ chiều, tôi ngồi nghiên cứ bản đồ. Những vòng cao độ chằng chịt sát vào nhau chứng tỏ độ dốc các ngọn đồi nơi đây khá dốc. Những đường thông thuỷ màu xanh đậm báo cho biết sẽ có rất nhiều cây cối và rất rậm rạp. Đây là những con suối mùa được kẻ thành những vạch xanh lơ trên bản đồ. Tôi cần biết vị trí những nơi này để tìm nguồi nước cho binh sĩ nấu ăn. Người truyền tin mang máy đến,
– Mời Trung Úy gặp Thiếu Tá.
Tôi cầm lấy ông liên hợp và lên tiếng,
– Thiên Nga nghe Tuấn Mai.
– 10 phút nữa, anh lên tiểu đoàn họp.
– Tôi nhận rõ 5/5.
Đúng 4 giờ 30 chiều hôm đó, tôi đến tiểu đoàn họp cùng với vài binh sĩ theo bảo vệ. Tại đây, tôi cùng các đại đội trưởng khác nhận phóng đồ hành quân của Ban 3 trao. Tôi đã đính kèm phóng đồ này vào bản đồ thật cẩn thận. Ban 2 thuyết trình về tình hình địch và bạn trong vùng. Lực lượng địch cũng không được coi là nhẹ. Kế tiếp, Tiểu Đoàn Trưởng phân nhiệm chiếm từng mục tiêu cho từng đại đội. Các đại đội trưởng trở về đơn vị chuẩn bị cho ngày N Giờ G để xuất phát. (5 giờ sáng ngay hôm sau.)
Ngày N:
Đại đội tôi được chỉ định làm nỗ lực chính chiếm mục tiêu trước 8 giờ sáng. Đó là ngọn đồi cây cối xum xuê có cao độ 632m. Các đại đội khác nhận lệnh lần lượt chiếm mục tiêu kế hai bên. Đại đội của tôi đã chiếm xong mục tiêu, rồi bung rộng ra hướng Bắc và Tây Bắc, như kế hoạch, mặc dù phải bứng một chốt báo động cấp tiểu đội của VC trên hướng tiến quân. Cả tiểu đoàn đã hoàn toàn lục soát mục tiêu như kế hoạch dự trù. Sau hơn một tuần, Tiểu Đoàn 3/40 được lệnh “zulu” (di chuyển) về nghỉ dưỡng quân ở Eo Gió. Bất ngờ, lệnh hành quân thay đổi, Trung Đoàn 40 được lệnh tiếp tục hành quân.
Thế là đại đội của tôi và ĐĐ3 cùng tiến song song, cách nhau 500m, Chúng tôi phải vượt qua một con suối cạn, có chiều rộng khoảng 5m. Thiếu Uý Cang, Trung Đội Trưởng Trung Độ 3, chiếm vị trí của con suối, làm đầu cầu cho đại đội và kế tiếp là TĐ3 vượt qua, sau khi được pháo binh yểm trợ. Mục tiêu là ngọn đồi rậm rạp nằm cạnh một yên ngựa. Ở đây, VC dã dùng đại bác 75 ly trực xạ vào đồi phiá Tây có đại đội của tôi trấn giữ. TĐ đã điều động ĐĐ2 của Trung Uý Giảng đánh vào vị trí này. Cuộc giao tranh kéo dài hơn 3 giờ. Địch bỏ chạy để lại khoảng 20 xác chết, và cây đại bác 75 ly…
Tôi chui vào chiếc lều poncho đã được dựng sẵn sau khi cùng Trung Uý Bá, ĐĐT Đ1, đi một vòng quanh tuyến phòng thủ để kiểm soát các vọng gác. Tôi chợt ngửi thấy mùi ẩm của hơi nước bão hoà. Tiếng mưa rơi đồm độp, đều đặn và tiếng kêu vo ve của muỗi, xen kẽ cùng tiếng rè rè của máy PRC 25, đập liên tục vào tai tôi. Đây là phương tiện liên lạc duy nhất của đại đội với các toán “ăn sương” (đi kích đêm) bên ngoài tuyến phòng thủ. Bây giờ đã 1 giờ sáng, bốn bề lạnh ngắt, vẫn chỉ có tiếng mưa rơi làm nặng triũ lòng.

 

Ngày N+1:
Đúng 5 giờ sáng, xuất phát từ các nơi này, VC đã pháo kích dữ dội vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn và vị trí đóng quân của các đại đội. Chúng tôi đã phải chiụ đựng suốt 2 tiếng đồng hồ đưới cơn mưa đạn của hàng trăm quả đạn pháo của VC, trong khi vẫn phải ghìm tay súng, căng mắt nhìn qua đêm, chờ đợi đợt tấn công bằng bộ binh của địch.
Quả thực, khoảng 8 giờ sáng, địch ồ ạt xung phong tấn công vào vị trí Bộ chỉ huyTiểu Đoàn và ĐĐ Chỉ Huy đóng chung với ĐĐ2. Qua PRC 25 mà tôi đang theo dõi, các đợt tấn công của chúng đã bị đẩy lui. 10 giờ sáng, địch rút lui sau khi bị thiệt hại nặng, Tiểu Đoàn đã được các phi tuần A37 và pháo binh yểm trợ.
Ngày N+3…:và tiếp tục đến gần nửa tháng
VC tiếp tục tấn công và pháo kích vào vị trí của cả Tiểu Đoàn, nhưng chúng đã bị thiệt hại nặng và rút lui sau nhiều đợt tấn công.
Ngày N+16:
Chúng tôi được lệnh “Zulu”. Tối hôm trước, Đ1 và 2, cùng BCH/TĐ đóng trên ngọn đồi cao 733m, trong khi ĐĐ2 làm tiền đồn cho TĐ. VC vẫn bám sát các đơn vị của ta.
Đúng 6 giờ sáng, TĐT ra lệnh Tiểu Đoàn di chuyển về hướng Đông. Đ1 của Trung Uý Bá đi đầu, kế tiếp ĐĐ2 của Trung Uý Giảng. ĐĐ3 của tôi đi đoạn hậu. Đi được 10 phút, ĐĐ1 đụng chốt kiềng của VC, bố trí theo hình chữ Z khiến Trung Uý Bá bị tử trận. ĐĐ2 cũng bị đánh tương tự, nhưng nhờ ĐĐ3 tăng cường nhổ chốt. Thế là cuộc đụng độ ác liệt đã xảy ra, kéo dài gần 5 giờ, giữa TĐ3/40 và gần 1 trung đoàn của VC. Cuối cùng, các đại đội đã đánh bật VC ra khỏi vị trí và rút về hướng Đông.
Ngày N+17:
Về đêm, TĐ3 đã dừng quân trên một ngọn đồi, cách quốc lộ 14 khoảng 3 km theo đường chim bay. Trong đêm, VC đã tập trung lực lượng để trả đũa sự thiệt hại của chúng trong tuần trước. 6 giờ sáng, địch xử dụng chiến thuật thường dùng là “tiến pháo, hậu xung”, tuy cũ nhưng hiệu nghiệm khi chúng muốn tràn ngập mục tiêu.
Tuy nhiên, ý định của chúng đã bị bẻ gãy. Đến 9 giờ sáng, VC đã phải rút lui, bỏ lại hàng trăm xác chết của đồng bọn. Một số lớn đã bị phi cơ và pháo binh tiêu diệt. (Thiếu Tá Trần Nghĩa Châu, TĐT, lên trung tá năm 74 và tử thương tại Bình Khê, 18-3-75. ĐU Lê Phước Quận, TĐP, hiện đang sinh sống tại Wichita, Kansas.)
Đến 12 giờ trưa cùng ngày, chúng tôi tiếp tục di chuyển về hướng Đông. Đến 3 giờ chiều, ĐĐ1 đi đầu bị phục kích, nhưng đã bị đẩy lui khi cả đại đội tràn xuống, xung phong qua vị trí của VC. Trung Uý Nghiã, ĐĐT Chỉ Huy, thay thế TrU Giảng bị tử trận và tiếp tục cho đại đội tiến về hướng Đông. Khi gần đến QL 14, ĐĐ3 ngồi chờ xe di chuyển về Kontum thì bị địch pháo kích. Một số binh sĩ và tôi bị thương trong lần này. ĐU Lê Phước Quận, TĐP, đã thay tôi điều động Đại Đội 3.
Khi mở mắt ra, tôi mới biết mình còn sống và đang nằm trong Bệnh Viện 2 Dã Chiến ở Kontum. Đại Tá Phan Đình Hoà và một số SQ Trung Đoàn đã đến uỷ lạo chúng tôi trong dịp này.
Sau 2 tháng điều trị, tôi được xuất viện và trở về đơn vị. Một tuần lễ sau, đơn vị của tôi được lệnh trở lại căn cứ Hàm Rồng (Pleiku) để dưỡng quân và bổ xung quân số. Sáu tuần lề sau, cả tiểu đoàn lại được lệnh lên đường hành quân ở Thanh An và Lệ Minh, Pleku cho đến đầu mùa mưa 1974.
St Louis, tháng 3-2015
Trần Thức
TĐ3/40/22 BB

 

Tác giả/Nhân vật: Đoàn Văn Tịnh |08-08-2011| 1,093 lần xem | |
Lời giới-thiệu:
Ngay sau khi ký-kết Hiệp-định Geneve (20-7-1954) chia đôi đất nước, Cộng-Sản Bắc Việt đã mang sẵn mộng xâm-chiếm nốt miền Nam bằng cách này hay bằng cách khác.
Năm 1960, họ đã đưa cán-bộ Trung-ương Đảng âm-thầm vượt vĩ-tuyến 17, vào Nam thành-lập và kiểm-soát Mặt Trận Giải-Phóng (MTGPMN).
Cho tới năm 1965, CS Bắc Việt đã đưa vào miền Nam hơn 1 triệu quân chính-qui, với những vũ-khí tối-tân do Nga-sô và Trung Cộng cung-cấp.
Vào đầu mùa hè 1972, về mặt quân sự, họ đã tận dụng toàn lực để mở rộng trên toàn các mặt trận trong Nam. Trong khi đó về phiá Bắc, họ đã xua quân tràn qua bờ sông Bến-Hải.
Trong những ngày đầu, vì phải đối đầu với một lực lượng gồm 5 Sư Đoàn chính Qui (318. 304, 312, 320 và 325) và nhiều đơn vị cơ-giới và địa-phương, SĐ3/BB của QLVNCH và những lực-lượng tăng-phái đã buộc phải triệt-thoái khỏi thị-xã Quảng-Trị.
Vì thiếu kế-hoạch từ đó việc triệt-thoái đã diễn ra một cách hỗn-độn nên đoàn quân và dân di tản khỏi Quảng Trị đã bị lực lượng truy kích của CS Bắc Việt thừa thắng, truy-kích theo, tạo nên bao thảm-cảnh tàn-phá và chết chóc dài khoảng 12 cây số trên QL1. Đoạn đường này trải dài từ Thị-xã Quảng-Trị cho tới cầu Bến Đá, một cây cầu nằm về phiá Nam cuả Quận lỵ Hải Lăng khoảng 5 cây số.
Sau này đọan đường đầy chết choc đó được mang tên là “Đại-Lộ Kinh Hoàng”.
CS Bắc-Việt tưởng rằng việc chiếm thành phố Huế đã nắm chắc trong tay, nên họ hăm hở xua quân tiến về Huế.
Về mặt chính-trị, nếu chiếm được Huế, họ sẽ dùng làm thủ đô cho MTGPMN để đòi hỏi chia cắt đất nước thêm một lần nữa …
Vừa tiến quân, vừa tàn-sát, lực-lượng truy-kích của CS Bắc-Việt đã không gặp một lực lượng trì-hoãn chiến nào đáng kể cho đến khi chạm phải Tiểu-Đoàn 9/TQLC.
Vào chiều ngày 1-5-1972, đơn vị này đã từ những giải núi Trường Sơn được lệnh đổ ra về phiá Đông để bảo vệ cầu Bến Đá nằm trên QL1. Tiểu Đoàn 9/TQLC trải dài trấn-giữ bờ phía Nam giòng sông Ô-Khê chờ đón lực-lượng truy-kích của CS Bắc-Việt.
Trên bình diện chiến-thuật, bài viết sau đây của Tân-An Đoàn văn Tịnh đã ghi nhận đầy đủ chi tiết về trận đánh tại cầu Bến-Đá của một Đại đội thuộc Tiểu Đoàn 9/TQLC.
Nhưng trên phương diện chiến-lược và chính-trị, người ta thấy có hai lập-luận tương-phản như sau:
1. Trên phương-diện chiến-thuật, việc chặn đứng một lực-lượng hùng-hậu cuả CS Bắc Việt quả là một trận đánh ngoạn mục, kỳ-công, và ngoài ra chiến-thắng này còn có một giá trị trên phương diện chiến-lược rất quan-trọng
– CS Bắc-Việt và MTGPMN đã không có một nơi tạm mang danh là thủ đô để có thể mặc cả trong thế hoà đàm.
– Tuyến phòng thủ Mỹ-Chánh đã được thành-lập ngay sau đó.
– Tổng Thống VNCH đã ra lệnh tổ-chức phản-công, tái-chiếm cổ-thành Quảng-Trị vào ngày 16-9-1972.
2. Giả thử đơn-vị này không chặn được lực-lượng truy-kích hùng-hậu của CS Bắc-Việt thì CS Bắc-Việt và MTGPMN đã có thành-phố Huế làm thủ-đô và sẽ có tư-thế mạnh trong hội-đàm đòi chia cắt đất nước một lần nữa.
– Sẽ không có trận đánh Tái-chiếm Quảng-Trị.
– Cũng sẽ không có cuộc di-tản miền Trung đau thương … và cuối cùng mất tất cả đất nuớc …
Những tổn thất và mất mát từ đó trở đi, không thể qui trách vào những người đã quên mạng sống của mình để bảo vệ từng tấc đất.
Nhiệm-vụ của những chiến sĩ QLVNCH nói chung và TQLC nói riêng đã hoàn tất, họ thấy giặc đến là đánh, giản dị chỉ có vậy thôi.
Hơn nữa chính trong cuốn hồi-ký của Henry Kissinger gần đây đã được giải-mật, cho thấy rằng năm 1972 người Mỹ đã muốn lật-đổ chính-phủ VNCH vì VNCH nhất-quyết không nhượng-bộ CS Bắc Việt để Mỹ có thể rút chân ra khỏi chiến-trường Việt-nam.
Trân trọng giới thiệu để độc giả tuỳ nghi nhận định.
MX Nguyễn Kim Đễ
 

 


Tình hình tổng quát vào những ngày cuối tháng 4-1972:

Lữ Đoàn 369/TQLC gồm 3 Tiểu Đoàn 2, 5 và 9 trải dài từ Nam lên Bắc qua hai căn cứ Barbara và Nancy nằm trên đường đỉnh của dẫy Trường-Sơn nhằm ngăn chặn địch từ hướng tây cuả Trường-Sơn tràn ra QL1.

Tất cả trận tuyến của 3 Tiểu Đoàn đều chịu áp lực nặng nề của địch. Tiền đồn và tuần tiễu cấp Trung đội của ta thường xuyên chạm địch. Căn cứ Barbara và Nancy hàng ngày nhận lãnh hàng trăm quả đạn pháo kích đủ loại.

Tiểu Đoàn 2/TQLC trải dọc theo trục lộ dẫn từ QL1 tới căn cứ Barbara.
Tiểu Đoàn 9/TQLC trách nhiệm căn cứ Barbara,(một căn cứ đã được bỏ hoang của Hoa Kỳ).
Để giảm thiểu tổn thất vì pháo kích, Bộ Chỉ Huy/TĐ9 đã khôn khéo chỉ đặt một Tiểu đội đặc biệt với máy truyền tin để duy trì sự hiện-diện mà thôi. Ngoài ra toàn bộ Tiểu đoàn trấn giữ tại các yếu điểm quan trọng khác. Kế hoạch này buộc địch đã phải tung ra nhiều cuộc tấn công thăm dò vị trí của ta, nên hầu như hàng ngày chạm địch. Tiểu Đoàn 5/TQLC trấn giữ căn cứ Nancy (nằm cách vào khoảng 5 cây số về phiá Bắc của căn cứ Barbara) cũng bị áp lực rất nặng. Sau nhiều đợt pháo kích nặng và tấn công, Tiểu Đoàn 5/TQLC đã phải rời bỏ vị trí và địch đã làm chủ căn cứ này.
Ngày 30/4 và ngày 1/5/1972
Bắt đầu từ buổi trưa ngày 1/5/1972 đầu mùa hạ, từ trên những đỉnh núi cao của dẫy Trường Sơn, chúng tôi nhìn xuống đồng bằng và phía Bắc tỉnh Quảng-Trị rất rõ ràng. Trên không phận, rất nhiều phi vụ F4 và A37 từ Hạm-đội 7 ngoài biển thay phiên nhau dội bom liên tục xuống dọc theo những vùng sát chân núi cố dập tắt các ổ pháo lớn, súng cối và hệ thống phòng không hùng hậu của địch quân đang ngày đêm đổ về phía Quốc-lộ I và các vị trí TQLC cũng như các đơn vị bạn. (BĐQ, BB…).
Có thể nói cho đến giờ phút này, sức chống cự của SĐ3/BB không còn nữa. Vùng HQ Quảng-Trị chỉ còn lại LĐ-147 và LĐ-258 TQLC cùng một số đơn vị BĐQ đang cố cầm cự mãnh liệt. Sau khi rút khỏi chiến trường Gio-Linh, Đông-Hà, Khe-Sanh và Cam-Lộ, các căn cứ hỏa lực chính yếu phía Bắc của Quảng-Trị như C1, C2, A1, A2, đỉnh Fuller, căn cứ Carol, Cùa, Mai-Lộc cùng các đỉnh Sarte, Holcomb đã lọt vào tay quân Bắc-Việt. Tóm lại, từ phía Bắc sông Thạch-Hãn không còn một đơn vị nào của QLVNCH trấn giữ. Trên QL-1 vô cùng bận rộn, các đơn vị bạn không còn hàng ngũ, lẫn lộn giữa dân chúng cùng di tản vội về phía Nam.
Chiến trường không còn ranh giới, bom-đạn đổ xuống khắp nơi, từ rừng-núi, đồng-bằng, quốc-lộ, làng-mạc và ngay trên bãi cát trắng của biển Đông. Hàng loạt đạn phòng không 37 ly của địch lập thành hệ thống phòng thủ dọc theo vùng đồi núi chạy lên phía Bắc chi chít, cố bắn hạ máy bay đang oanh tạc. Pháo của Bắc-Việt cùng những ổ súng lớn nhắm thẳng ra trục lộ, quyết ngăn chặn và cắt đứt các đơn vị đang rúi lui. Thê thảm nhất là dân chúng, cha con, chồng vợ…gánh gồng, đùm nhau cố chạy về Nam bị pháo địch, vô số người dân vô tội bị chết và bị thương nằm la liệt bên cạnh những chiếc xe trúng đạn tan tành trên QL-1 từ Quảng-Trị về tới sông Ô-Lâu.
Ban đêm, C47 còn có tên là Fire Dragon và C130 mang những khẩu đại bác 105 ly gọi là Spector Gunship rãi đều dọc trên vị trí phòng thủ hỏa lực của địch quân, những cột lửa đạn với tiếng hụ kinh hoàng.

Ngày 2/5/1972

Mặc dù trong lúc TĐ2 và TĐ 9/TQLC đang tiếp tục chạm địch, Đại tá Phạm văn Chung Lữ Đoàn Trưởng /Lữ Đoàn 369 đã ra lệnh cho Tiểu Đoàn 2 và 9/TQLC lập tức đoạn chiến, dùng trì hoãn chiến để trở ra QL1.
Tiểu Đoàn 2/TQLC đã trở ra QL1 tới cầu Mỹ Chánh và Tiểu Đoàn 9/TQLC kéo ra QL1, lập phòng tuyến trấn giữ bên giòng sông Ô-Khê vói nhiệm vụ chận đứng sự tiến quân của địch, và cố gắng tiếp cứu các đơn vị bạn đang lui quân một cách hỗn tạp, cùng dân chúng đang cố chạy xuôi về Nam.
 
Đặc biệt lưu ý phải ngăn chặn được thiết-giáp của quân Bắc-Việt tràn xuống như chúng đã từng xử dụng với Lữ Đoàn147 trên cầu Đông-Hà.
Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn đã gom góp hầu hết ống phóng hỏa tiển M72 chống chiến xa từ các đơn vị nằm tuyến sau trao cho Tiểu Đoàn 9/TQLC để xử dụng.
 
  Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 9 đã xử dụng ĐĐ3 và ĐĐ4 phòng ngự trên yếu điểm “Cầu Bến Đá” trên giòng Ô-Khê.
Đây là một cuộc phòng thủ diện địa, tuy cấp thời nhưng tinh thần và khả năng tác chiến vô cùng hùng hậu.
Trong tinh hình khẩn trương này, người chiến sĩ của Tiểu Đoàn 9/TQLC không còn sự lựa chọn nào khác hơn là tiêu diệt lực lượng hùng hậu của địch nếu không muốn để bị địch giết.
Trong khi đó, Đại tá Lữ đoàn trưởng ra lệnh cho Tiểu Đoàn 2/TQLC chuẩn bị tuyến phòng thủ thứ hai tại cầu Mỹ Chánh nằm trên QL1, cách cầu Bến Đá 3 cây số về hướng Nam.
Những tháng năm dài hành quân diệt địch từ ngày rời khỏi quân trường, tôi đã đi khắp nơi, trên mọi vùng của quê hương đất nuớc. Trực tiếp tham dự hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, từ vùng rừng-núi Trường-Sơn, vùng đồng-bằng, kinh-lạch, sình-lầy bao la như Nam-Căn, Cà-Mau, Kiên-Giang…nếm đủ mùi vị, cảm giác của chiến trận….chưa bao giờ chúng tôi có một cuộc hành quân và phòng thủ tác chiến như thế này – với một cảm giác mạnh tối đa.
Pháo binh địch tập trung ồ ạt đổ xuống trên vị trí phòng thủ của Lữ Đoàn, đạn pháo lớn, pháo nhỏ, súng cối…đủ loại đạn, đủ loại tiếng nổ. Chúng cố làm sao cho ta không thể ngóc đầu lên nổi, nhưng địch quân đã quên một điều:
Với tình thế trước mắt, cuộc chiến đấu sinh-tử, một mất, một còn. Các cấp cán-bô, chỉ huy chẳng còn gì phải gìn-giữ, tất cả đều nằm trên phòng tuyến. Chịu đựng tất cả, cùng chiến đấu và không cần biết mọi hiểm nguy đang vây quanh, không thể lùi bước được nữa.
Trên phòng tuyến đầy cả ống phóng M72, đạn cối, M79…tất cả đều sẵn sàng, dáng mặt của tất cả mọi người vẫn bằng-an, vui-vẻ một cách tin tưởng. Cái ý-chí và tinh thần này vô cùng quan trọng, không phải chỉ duy nhất cho trận đánh khốc liệt sắp tới, mà là một sức mạnh vô địch để giữ vững sự yên-lành của mọi người trước sự di-tản bỏ chạy của các cánh quân bạn và dân chúng đang diễn ra trước mắt một cách đau lòng.

6 giờ chiều ngày 2/5/1972
Thiếu úy Lam đã sẵn sàng với một Tiểu-đội Cảm-tử (7 người), gồm B1 Hạnh mang máy truyền tin, Trung-sĩ Thành, Tiểu-đội trưởng và Hạ-sĩ I Quyền cùng 3 người lính của Trung-đội 2 làm nhiệm vụ của Biệt-kích. Vượt sông Ô-Khê, di chuyển lên phía Bắc càng xa càng tốt, tìm một vị trí ẩn nấp và chiến đấu. Mục đích theo dõi tình hình địch và dân chúng đang di chuyển về Nam, báo cáo kịp thời, nhất là thiết-giáp địch. Cho đến giờ này, bên phía sông hoàn toàn thuộc về địch quân. Nên chuyến đi của Lam vô cùng nguy hiểm, chỉ sơ hở là “tiêu” ngay tức khắc.
Mặt trời không còn nữa, đêm xuống bao phủ khắp nơi, tôi tiển Lam qua sông. Chiếc cầu vẫn còn đó, nhưng không thể dùng nó được. Tiểu-đội cảm-tử vượt sông an-toàn và họ yểm trợ nhau bò lên trên những bờ cao. Trung-sĩ Thành quay lại vẫy vẫy tay trong đêm đen. Họ như những bóng cây đổ xuống mặt đất, do ánh hỏa châu của pháo binh và máy bay chiếu sáng từ trên. Họ đã biến mất và tất cả im lặng, một vài phút giây khó thở. Cứ thế, chúng tôi chờ đợi toán quân gọi về cho biết tình hình di chuyển. 1/2 giờ trôi qua, có tiếng bấm rời rạc trên loa máy, dấu hiệu liên lạc tôi đã dặn Lam và Hạnh kỹ lưỡng. Tôi bốc máy và nói vừa đủ nghe

– Cho qua đi Hạnh.
– Trình anh Tư, chúng tôi đã rời bờ sông có lẽ hơn 100m. Trước mặt có nhiều bóng người qua lại trên đường.
– Nhận, địch quân đó – cẩn thận, tìm chỗ ẩn-nấp và bố trí.
– Đáp nhận.

Giọng của Hạnh thì thào trong máy, tôi cúi xuống sau dàn bao cát chất thành chiến tuyến, đốt điếu thuốc, liên tục rít những hơi dài và nhè nhẹ thở khói, im-lặng, đợi-chờ. Thời gian bổng đi chậm lại vì khoảng không gian chung quanh tôi hình như thiếu không khí, ngột-ngạt, chúng tôi đang trông-đợi , đang hồi-họp đến cực-độ. Đây là một sự kiện có thể tạo cho chúng tôi thắng lợi, nhưng cũng có thể mất những chiến-hữu gan-dạ, can-đảm này.
  B1 Hoàng nói.
– Đại uý! có ám hiệu truyền tin

Tôi vội vàng nắm ngay ống liên hợp từ tay B1 Hoàng.
– Tôi nghe.
– Trình anh Tư, từ phía trong núi, chúng tôi thấy có những toán quân di chuyển ra gần trục lộ. Hoả châu sáng lắm, ở vị trí này chúng tôi có thể quan sát dễ dàng.
– Nhận 5, cho anh em quan sát kỹ lưỡng chung quanh vị trí.
– Anh Tư yên-tâm.
Bây giờ là 3 giờ sáng, trong suốt đêm, chúng tôi cũng đón chừng vài chục người dân, đàn ông có, đàn bà và con nít di chuyển về Nam. Những trạm chốt đầu cầu cẩn thận sẵn sàng tác chiến và kiểm soát bằng mắt và để cho họ qua cầu mới tiếp nhận. Không có một người lính nào của đơn vị bạn, vì họ đã biết về con đường này rất nguy hiểm nên họ đã thoát hiểm mưu sinh ở đâu đó để vượt qua giòng Ô-Khê .
3 giờ 40, Lam cho biết

– Có tiếng động cơ và áp tai trên mặt đất, nghe tiếng chuyển động nặng nề, có lẽ là Thiết-giáp.

– Nhận 5, cẩn thận theo dõi.
Lúc 4 giờ , giọng của Lam cấp bách.

– Hình như Thiết-giáp địch di chuyển từ phía Tây trong núi ra.
– Không đâu! từ Bắc xuống Nam song hướng tiến của chúng không phải dùng lộ nhựa. Cẩn thận quan sát.
4 giờ 15, Lam báo:
– Thiết-giáp địch xuất hiện và nhanh chóng chạy ra lộ nhựa. 3, 4 chiếc cách chúng tôi chừng 100mét hơn và đang dừng lại. Bộ-binh địch đang tiến lên, chúng la lối nghe rõ lắm.
– Lam-Giang nghe đây; Lập thành 2 toán như đã dự trù, yểm trợ nhau, nhanh chóng rút lui
– Đáp nhận.

– 1, 2, 3, 4 đây Tầm-Dương.
Các trung đội lần lượt trả lời

– Nghe, nghe, nghe, nghe anh Tư.

– Cho tất cả anh em rút nòng ống phóng M72 và sẵn sàng. Nhớ, phải nhắm kỹ từng chiếc Thiết-giáp địch, bắn đích xác, đừng cho chúng chạy lọt qua cầu. Xạ thủ đại liên quạt liên tục sát mặt đất dứt đám bộ-binh địch. Kiểm soát và sẵn sàng. Sông-Danh kiểm soát tổ diệt chiến xa của anh trên cái hầm cao. Lựu đạn và trái sáng sẵn sàng.
Tôi gọi về bộ chỉ huy tiểu đoàn

– Đà-Lạt đây Tân-An, trình Đại-bàng. Tiếng di chuyển của Thiết-giáp địch đã đến gần, tháp tùng chúng có bộ-binh đông đảo. Cách trước tuyến chừng 200m.

– Đà-Lạt đáp nhận. Tân-An thận trọng và sẵn sàng. Tác xạ chính xác, còn Toán biệt-kích thế nào….

– Trình Đại-bàng, tôi đang cho Lam và toán Biệt kích di chuyển nhanh về phòng tuyến.
– Dặn và kiểm soát con cái cẩn thận, tránh ngộ nhận. Chúc Tân-An thành công.
– Đáp nhận. Cám ơn Đà-Lạt.
Chiến tuyến bây giờ không còn như ngày trước, Đại-đội trưởng, Đại-đội Phó, Trung-đội trưởng tự tạo cho mình vị trí phòng thủ và tác chiến ngay trên tuyến như anh em binh-sĩ. Thậm chí vị Tiểu-Đoàn trưởng chỉ huy trận đánh và BCH cũng đã sẵn sàng trong những hầm hố dã chiến chỉ cách phòng tuyến chừng vài chục mét.

Tôi gọi Đại uý Nguyễn Minh Trí đại đội 4
– Trùng dương đây Tầm dương

– Trùng dương nghe Tầm dương trên 5.
– Tóan Biệt kích sắp dọt qua cầu tránh ngộ nhận.
– Nhân Tầm dương 5

Chiếc cầu Bến-Đá do một Trung đội của ĐĐ3 kiểm soát. ĐĐ4 nằm bên phải, ĐĐ3 nằm bên trái của QL1. ĐĐ1 bố trí bảo vệ sườn phải hướng về làng mạc và dãy đồi cát phía Đông, ĐĐ2 phòng thủ về hướng tây, bảo vệ sườn trái của đơn vị, đề phòng địch đánh bọc từ dãy núi đổ xuống.

  Đại đội chỉ huy và Bộ chỉ huy tiểu đoàn đương nhiên trở thành lực lượng bảo vệ mặt sau và không có lực lượng trừ bị nữa vì đây có thể là trận chiến cuối cùng của đơn vị.
Anh hai Thăng-Long (Danh hiệu của Đại Úy Lê Thắng xử lý chức vụ Tiểu Đoàn Phó TĐ9/TQLC) nằm chung với Ban chỉ huy Đại đội 3 ở ngay gần đầu cầu Bến Đá.

Giờ phút nghiêm trọng sắp đến. Tuy lòng chúng tôi nôn-nao, hồi-hộp và nóng như lửa đốt, nhưng trên mặt ai cũng quyết tự-tin.

4 giờ 20 ngày 2/5/1972
Những đóm hỏa-châu từ trên cao về phía Tây của QL-1. Không đủ soi sáng cho khu vực quanh cầu Bến-Đá. Giữa sự im-lặng đang bao trùm trong đêm. Bỗng dưng nhiều tiếng chuyển động của động-cơ ầm-ầm tiến nhanh về phía chúng tôi.

– Tầm-Dương, Tầm-Dương đây Lam-Giang.
– Tôi nghe.
– Thiết-giáp địch phóng rất nhanh về phía anh Tư. Chúng tôi không thể về kịp.
– Cho chạy nhanh lên.
Trong đêm tối, bổng rực sáng và hàng trăm ống phóng hỏa-châu đồng loạt bắn thẳng lên trời. Cả một vùng bao la sáng rực như ban ngày. Toán quân của Lam-Giang đã chạy tới đầu cầu và thiết-giáp địch đuổi sát sau lưng các anh chừng ba chục thước.

– Lam-Giang, Lam-Giang, cho tất cả tiểu-đội nhảy xuống sông! Nhảy xuống sông!
Trong giây phút cấp bách đó, những binh-sĩ của ổ tác-chiến giữ đầu cầu khai hỏa vào chiếc thiết-giáp đầu tiên và tiếp tục hàng trăm tiếng nổ lớn và đồng loạt của những ống phóng M72. Những tia lửa kẻ những đường sáng rực trong đêm bay thẳng tới mục tiêu. Loạt đạn khai hỏa đầu tiên của Trung-đội 2/ĐĐ3/TĐ9/TQLC khởi đầu cho trận chiến của toàn bộ của Lữ đoàn 369 Thủy quân lục chiến.

Đạn pháo của địch-quân, đạn pháo của các pháo-đội TQLC từ phía Nam sông Mỹ-Chánh. Tiến hụ cùng những cột lửa của C47 từ trên cao, tạo nên một vùng chiến-trận khốc-liệt và hãi-hùng. Toàn bộ trên chiến địa, đạn pháo ào-ạt đổ xuống như mưa.
Trong ánh sáng chiếu tỏa như ban ngày của hỏa-châu và đạn lớn. Chúng tôi nhìn thấy từ trên cầu, Tiểu-đội biệt-kích cùng với Lam-Giang lao thẳng xuống giòng sông cùng lúc với 3 chiếc thiết-giáp địch xông thẳng qua cầu như 3 khối lửa đang cháy phừng-phực dưới hỏa-lực kinh-hoàng của ống phóng M72 của toán diệt chiến-xa.
Từ giờ phút khởi đầu đó, liên tục những tia-sáng phóng về đoàn chiến-xa địch từ phòng tuyến của ĐĐ3 và ĐĐ4.
8 chiến-xa đầu tiên đã bị hoả thiêu và đơn vị bộ-binh của địch tùng-thiết đã bị hoàn toàn tiêu diệt, không tên nào sang được bên này cầu, ngoại trừ 5 chiếc thiết-giáp đầu, vì chúng đã xiềng xạ-thủ và người-lái chiến-xa vào xe, nên tuy cháy như ngọn đuốc, nhưng chúng vẫn phóng qua cầu và tông vào những gò cát cao hay cây cối, bờ vực hai bên đường.
Tại bên kia cầu, những chiếc còn lại bốc cháy dữ-dội và đâm vào các gò đất ở hai bên Quốc Lộ 1.
30 phút tác-chiến, 30 phút tác-xạ, đạn ống phóng M72, ống phóng lựu M79 và toàn thể những khẩu đại-liên, súng nhỏ đã tạo nên những tấm lưới hỏa-lực dày-đặc về phía trước bề ngang cả 500 mét.
Mờ sáng, những người chiến-binh kiêu-hùng của TĐ9/TQLC đã hỏa-thiêu đoàn thiết-giáp và những đơn-vị bộ-binh tùng-thiết của Trung-đoàn 66/304 quân Bắc-Việt bên giòng sông Ô-Lâu. Bờ Bắc giòng Ô-Khê, tiếng la-hét, gào-tháo, rên-rĩ của đám tàn-quân Bắc-Việt bỏ chạy ngược trở lại phía Bắc, để lại trên bải chiến-trường cả trăm xác người lăn-lóc, nát-bét với vũ-khí bể-gẫy, hỗn-loạn.
Cũng trong giây phút đó, đoàn quân của Lam-Giang đã về an-toàn với chúng tôi, ngoại trừ một vài vết thương khi họ lao xuống sông và chiếc máy truyền-tin bị thiết-giáp địch tác-xạ banh hết một góc. Nhưng người lính tuyền-tin B1 Nguyễn-Văn-Hạnh may-mắn an-toàn với vết thương trên vai trái. Đoàn quân Lam tiến lại gần tôi và bố-trí, tôi quay lại bắt tay Lam và siết tay anh trong vòng tay thân-mến, cùng những người chiến binh biệt kích can-đảm đã hoàn thành nhiệm vụ hiểm-nguy.

– Thăng-Long, Thăng-Long, anh Hai báo cáo cho Đà-Lạt mọi việc nghe.
Thăng-Long vui-vẻ móc ống liên-hợp.
– Đà-Lạt đây Thăng-Long.
– Cô-Tô nghe Thăng-Long, Đà-Lạt đang bận liên lạc với Cao-Bằng (Cô-Tô là danh hiệu truyền tin của Đại-Úy Kiều-Công-Cự, vị Trưởng Ban 3 TĐ9/TQLC)
– Nhờ Cô-Tô trình với Đà-Lạt là ĐĐ3, ĐĐ4 đã hoàn toàn làm chủ tình hình, 8 chiếc thiết-giáp địch bị bắn cháy ngay bên kia cầu, song còn đà chạy nên có 5 chiếc phóng qua được bên này. Còn Bộ Binh địch không một tên nào lọt qua sông, bị bắn hạ hoàn toàn bên kia bờ.
– Nhận 5, chúc mừng Thăng-Long, Tân-An, Trùng-Dương và tất cả anh em binh-sĩ.

6 giờ sáng ngày 3/5/1972, mặt biển Đông đã hừng sáng, vùng biển bao la dưới muôn ngàn tia sáng ban mai của vừng dương trên biển Đông cả vùng đất trời, như rực rỡ cùng đón mừng chiến thắng tuyệt đối của một đơn-vị tác-chiến hào hùng.

Đến 7 giờ sáng, phòng tuyến của TĐ được cũng cố và các đơn vị trưởng tiếp tục nhận lệnh của LĐ. Trong suốt buổi sáng ngày 3/5/1972, không có một trận tấn công nào của địch. Nhưng đến 2 giờ chiều cùng ngày, địch lại tập trung lực lượng từ phía Tây, từ trong những dãy núi trọc cách lộ chừng 2km, ào ạt tấn công sườn trái của LĐ. TĐ9/TQLC vẫn nằm lại trên vị-trí cũ chận sự tấn-công từ phía Bắc. TĐ9/TQLC được lệnh rút lui về phía chiến tuyến Mỹ-Chánh.
Trong tất cả mọi loại chiến thuật tác chiến, Trì hỏan-chiến và đoạn-chiến, là một loại tác chiến rất khó khăn cho cấp chỉ huy cùng mọi đơn vị.
Hơn nữa, trong tình thế hiện tại, lực lượng địch quân quá hùng hậu. Quân Bắc-Việt cố chận ngang sườn và dứt thành từng đoạn để tiêu diệt. Bom đạn đổ xuống khắp chiến địa, nên sự lui quân chiều ngày 3/5/72 trở nên nguy hiểm và khó khăn.
Nhưng chiến tuyến Mỹ-Chánh đã được lập xong vững vàng. Tuy rằng những gì có thể xảy ra cho các Đại Đội trên đoạn đường lui quân không thể lường được.

Song chúng tôi cũng yên tâm, cùng lắm thì Tiểu đoàn sẽ đơn độc tác chiến cũng chưa đến nổi gì. Vì giữa vùng phía Tây và trục lộ, thế cao của trục lộ xe lửa và bờ đất chạy dài theo QL-1 cũng rất tiện lợi cho chúng tôi để cấp bách lập phòng tuyến chiến đấu.

Hơn nữa lộ trình chừng vài cây số là về tới tuyến Mỹ-Chánh. Với dự trù và tính toán đó chúng tôi vô cùng bình tâm, bởi lẽ “Chiến thắng mà phải lui quân”.
Nếu không giải thích cho binh sĩ hiểu một cách tường tận, rõ ràng là một đều vô cùng nguy hiểm cho cuộc đoạn chiến cấp bách này.

Lúc 4 giờ chiều, tôi đã đến từng Trung-đội trên tuyến phòng thủ nói rõ cuộc Hành-quân chiều nay và nhất là điểm đến của Đại Đội là bờ sông Mỹ-Chánh, để tất cả tin tưởng và yên tâm.Tôi gọi các trung đội

– 1, 2, 3, 4 đây Tầm-Dương. Thẩm quyền vào máy.
– Đáp nhận.
– Trung-đội 1 lui quân trước, di chuyển sát vào bờ đường. Cho 1 Tiểu-đội tiến bên trái đường, nhanh chóng nhắm hướng Mỹ-Chánh di chuyển chừng 1 km nằm lại bố trí. Trung-đội 4 tiếp theo Trung-đội 1.
– Đáp nhận.
– Thi hành
– Trung-đội 2 nằm tại chỗ, Trung-đội 3 dạt qua trái đội hình cẩn thận di chuyển trên đồng ruộng, hướng về Nam và BCH/ĐĐ theo sau Trung-đội 4.
Chúng tôi thận trọng lên đường, nhưng khi di chuyển được 500m, tiếng của Sáng vội vàng trong máy (hỏa lực địch đã nổ sau lưng và Trung-đội 2 khai hỏa chống cự)
– Trình anh Tư, địch đang bám sát .
– Cho con cái tác chiến, bình tỉnh không sao. Tác xạ vào chúng ngay từ xa, đừng để chúng bám sát.
– Đáp nhận.
Và sau đó chúng tôi lại bắt đầu trận đánh. Chiều đã xuống, màu đất trời sắp sẩm tối, tôi nhìn lên trời cao và chung quanh rồi ban lệnh cho Sông-Danh.
– Cho toàn bộ Trung-đội của Sông-Danh rút lui ngay, chỉ cho một toán nhỏ nằm lại cạnh phía Đông của trục lộ, để chúng cho tôi.

Trung-đội 4 dừng lại quay về phía Bắc. Chiếm những gò cao yểm trợ cho Trung-đội 2 rút lui và ra lệnh cho Thiếu-úy Sử khai hỏa ngay và Bộ chỉ huy /ĐĐ cùng toán biệt-kích nằm lại chiến đấu.
Trung-đội 2 nhanh nhẹn rút về cạnh Đông của trục lộ và lui về phía sau chừng cây số nằm lại yểm trợ cho Ban chỉ huy /ĐĐ và Trung-đội 4 và Tiểu-đội của Trung-đội 2 lui nhanh chóng và Trung-đội 1 nằm lại quay hướng phòng thủ về phía Tây sẵn sàng tác chiến yểm trợ
Trung-đội 3 chiếm những gò cao, bố trí, yểm trợ cho ĐĐ rút lui. Cứ thế chân vạt, bài học chiến thuật của trường mẹ đã đưa chúng tôi về tới căn cứ. Địch quân đã tiến sát ĐĐ vì TĐ2 đã rút hết về bên kia sông Mỹ-Chánh

– Tân-An đây Đà-Lạt.
– Tân-An nghe.
– Cố gắng đưa con cái an-toàn về tới nơi, tới chốn.
– Đáp nhận Đà-Lạt. Chúng bám sát quá, nhưng không sao.

Và khi chạy qua cầu Mỹ-Chánh. Đêm đã xuống tự bao giờ. Trung-đội của Luyến phải lội qua sông để bảo đảm an-toàn. Các Trung-đội 1, 3, 4 và Ban chỉ huy /ĐĐ cũng về được qua cầu sông Mỹ-Chánh an-toàn. Một vài binh-sĩ bị thương được mang theo. Trên mặt cầu, từng khối thuốc nổ TNT được Công-Binh đặt chuẩn bị giựt sập cầu theo lệnh của Lữ Đoàn.

6 giờ chiều ngày 3/5/1972, không còn lực lượng nào của ta lưu lại bên bờ Bắc sông Mỹ-Chánh. Và cũng giờ phút này, giòng sông ranh giới Huế và Quảng-Trị là chiến tuyến phương Bắc ngăn chặn toàn bộ sự xâm nhập và tấn công của gần 5, 6 Sư Đoàn quân của cộng sản Bắc-Việt và cũng là nơi khởi đầu cho chiến dịch tái chiếm Quảng-Trị, Cổ-Thành Đinh-Công-Tráng – Chính địa danh này đã đi vào chiến-sử oai hùng của đoàn quân Cọp-Biển.

MX Tân-An Đoàn-Văn-Tịnh
Maryland
13/10/2002

Related Post